Toruworld

why so empty?

Cách mạng, văn hóa và giáo dục – Nguyên Ngọc July 22, 2009

Filed under: Documents — butchitoru @ 2:48 pm

Gần đây, kỷ niệm 140 năm ngày sinh của nhà văn Maxim Gorki, chúng ta có dịp đọc một tác phẩm lâu nay ít được biết đến của ông, viết năm 1918, ngay giữa những ngày đầu Cách mạng Tháng Mười Nga, có tên “Những ý tưởng không hợp thời”. “Không hợp thời”, Gorki tự gọi những ý tưởng của mình như vậy bởi vì, là người sáng suốt nhất và cũng dũng cảm nhất, trong thời điểm sôi động vừa phức tạp vừa hứng khởi tột cùng ấy, đúng như một nhà văn hóa lớn, với một sự hiểu biết vô cùng sâu sắc và một tình yêu thống thiết đối với nhân dân Nga và nước Nga, ông đã bình tĩnh nhìn thấy và nói đến thực tế lâu đời và cấp bách của nước Nga, những gì cách mạng đã làm được, và những gì cách mạng chưa làm được, đúng hơn, không thể làm được đối với thực tế ấy, những gì là cơ bản nhất mà nước Nga và nhân dân Nga còn phải đối mặt, lâu dài, và tận trong nền tảng sâu thẳm nhất của mình.

Chắc chắn không ai có thể nghi ngờ sự ủng hộ nồng nhiệt của Gorki đối với cách mạng và đối với Lê-nin. Là nhà văn hóa lớn, xuất thân từ “dưới đáy” xã hội Nga, hơn ai hết ông hiểu sự cần thiết sống còn và tầm vĩ đại của cuộc cách mạng lật đổ chế độ Sa hoàng, giải phóng nước Nga, tạo những điều kiện chưa từng có cho nước Nga có thể thay đổi. Nhưng tỉnh táo, đầy tinh thần trách nhiệm và dũng cảm đến kinh ngạc, ông cũng nói rằng: “Cách mạng đã đánh đổ nền quân chủ, điều đó đúng! Nhưng điều đó có lẽ cũng có nghĩa rằng cuộc cách mạng đã mang chứng bệnh ngoài da vào bên trong nội tạng”. Cách mạng đã gạt bỏ cản trở bên ngoài, trên bề mặt (ngoài da) để cho phép tiến hành chữa trị những căn bệnh chí tử của thực tế Nga, nhưng công cuộc chữa trị chỉ được bắt đầu sau cách mạng chứ không phải trong cách mạng, bằng cách mạng. Cách mạng đã thành công, nhưng những căn bệnh trầm kha thì vẫn còn nguyên đấy, thậm chí nếu trước kia nó ở trên bề mặt thì bây giờ cách mạng đưa nó lặn vào trong nội tạng chứ không hề trừ tiệt được nó. Và như vậy thì lại còn nguy hiểm hơn, nếu coi mọi sự đã xong và dừng lại. Hoặc cứ tiếp tục theo một cách ấy. Theo Gorki, lại còn có điều khác nữa, cũng nghiêm trọng không kém, đến từ chính cuộc cách mạng mà ông dấn thân vào hết mình. Thẳng thắn, nghiêm khắc, vì hết sức trách nhiệm, ông viết: “Chúng ta sống trong một cơn bão của các xúc cảm chính trị, trong sự hỗn độn của một cuộc chiến đấu giành quyền lực; cuộc chiến đấu này đánh thức bên cạnh các tình cảm tốt đẹp còn cả những bản năng đen tối. Điều đó là tự nhiên, nhưng lại đe doạ bẻ cong đi tính cách của chúng ta, và làm cho nó phát triển một cách giả tạo theo một hướng nhất định”.

Nhầm lẫn lớn nhất của giáo dục vừa qua và hiện nay chính là ở chỗ nó không nhận ra được rằng cách mạng là vĩ đại, nhưng cách mạng chỉ dọn đường, chỉ có thể dọn đường, chứ nhất định không thể làm được việc chữa trị cho xã hội và con người; công việc đó phải là do chính nó, giáo dục, một bộ phận cốt lõi, nền tảng của văn hóa, phải làm. Đó là vai trò, là vị trí, là thiên chức của nó.

Không thể không liên tưởng đến một lãnh tụ khác cũng từng làm nên một cuộc cách mạng lớn trong thời hiện đại, đồng thời là một bậc hiền triết, Nelson Mandela, người đã lãnh đạo thành công công cuộc phá bỏ chế độ A-pác-thai ở Nam Phi. Sau chiến công lớn đó của nhân dân Nam Phi, cũng bình tĩnh và minh triết đến kinh ngạc, ông nói: “Chúng ta chưa có tự do, chúng ta mới giành được quyền tự do để có tự do”. Cách mạng là quan trọng và cần thiết, nhưng cách mạng không làm thay đổi được phần bên trong của xã hội và con người, không chữa trị được những căn bệnh nội tạng, những căn bệnh ngăn con người thật sự trở thành con người tự do. Không được phép tin rằng cách mạng đã tạo nên được con người tự do. Cũng có thể hiểu, đấy không phải là “chức năng” của cách mạng, không nằm trong khả năng của nó. Nó làm công việc dọn dẹp cho cuộc chữa trị.
Chữa trị cho xã hội, cho đất nước, cho dân tộc, cho con người, Gorki khẳng định, công việc đó, trách nhiệm đó, chức năng đó là của văn hóa, của văn học nghệ thuật. Và chúng ta hiểu, đương nhiên, của giáo dục, bộ phận cốt lõi, nền tảng của văn hóa. Đó là chức năng thiêng liêng của văn hóa, văn học nghệ thuật, và của giáo dục.

“Cách mạng đã đánh đổ nền quân chủ, điều đó đúng! Nhưng điều đó có lẽ cũng có nghĩa rằng cuộc cách mạng đã mang chứng bệnh ngoài da vào bên trong nội tạng”.
Maxim Gorki
“Chúng ta chưa có tự do, chúng ta mới giành được quyền tự do để có tự do”.
Nelson Mandela

Lẽ nào đọc Gorki và Mandela mà không lập tức liên tưởng đến những vấn đề của chính chúng ta. Mỗi cuộc cách mạng trong những hoàn cảnh lịch sử riêng ắt có những khác biệt lớn nhỏ riêng, nhưng dẫu có khác đến đâu thì những nguyên lý và quy luật chung vẫn không thể khác. Những điều Gorki và Mandela minh triết cảnh báo có chừa chúng ta không? Chắc chắn là không. Đó là ngọn lửa địa ngục mà các dân tộc đều bắt buộc phải đi qua, để đến được ngưỡng cửa của cuộc chữa trị, tới lúc ấy mới có thể bắt đầu. Cần đủ tỉnh táo và dũng cảm như các ông để biết nhìn thẳng và nhìn xa hơn về những vấn đề của chúng ta.
Chúng ta đã có được một cuộc cách mạng chấm dứt một trăm năm nô lệ, và sau đó liên tục hai cuộc chiến tranh anh hùng để hoàn tất cuộc cách mạng ấy, giành lại độc lập dứt khoát cho dân tộc. Sự nghiệp đó rất vĩ đại. Vĩ đại vì nó đã quét đi được những trở ngại bên ngoài, “ngoài da”, để cho phép chúng ta tự nhìn sâu lại trong chính mình, những tật bệnh, những nhầm lẫn và chậm trễ chí tử đã làm cho đất nước ta chậm phát triển. Nhìn rõ, và bắt tay vào công cuộc chữa trị, như ta vẫn gọi, cuộc chấn hưng dân tộc.
Đối với chúng ta hiện nay, có thể nói tất cả các vấn đề về văn hóa đều đang nóng bỏng. Có lẽ ai cũng có thể cảm nhận được điều này: Chúng ta đều đang hết sức lo lắng về kinh tế, càng lo lắng hơn trong khủng hoảng toàn cầu hiện tại. Nhưng sâu sắc hơn, trằn trọc hơn, lâu dài và khó khăn hơn, thậm chí chừng nào đó cũng chưa hoàn toàn thấy rõ được đường ra cho rành rẽ, là lo lắng về văn hóa. Trong đó, vừa nóng bỏng, cấp bách, vừa căn bản, lâu dài, là về giáo dục. Cho nên, những điều vừa đọc trên kia có lẽ thật có ích cho chúng ta để suy nghĩ về giáo dục, nền giáo dục mà chúng ta đang khó nhọc tìm lối ra hiện nay, cả về đường hướng cơ bản, lâu dài, lẫn bước đi cụ thể, trước mắt, đều còn rất lúng túng – nếu chúng ta dám nhìn thẳng và nói thẳng.
Nhầm lẫn lớn nhất của giáo dục ta vừa qua và hiện nay chính là ở chỗ nó không nhận ra được tất cả tình thế trên, không nhận ra được rằng cách mạng là vĩ đại, nhưng cách mạng chỉ dọn đường, chỉ có thể dọn đường, chứ nhất định không thể làm được việc chữa trị cho xã hội và con người; công việc đó phải là do chính nó, giáo dục, một bộ phận cốt lõi, nền tảng của văn hóa, phải làm. Đó là vai trò, là vị trí, là thiên chức của nó. Công việc của nó, nói một cách hoàn toàn không quá đáng, là làm lại con người, từ con người nô lệ hôm qua, mà cách mạng đã cởi xiềng cho nhưng vẫn còn nguyên xi là con người nô lệ trong tâm hồn, thành con người tự do thật sự, nghĩa là con người tự do từ tận bên trong của chính mình.
Mấy năm lại đây nhiều người đã nói đến triết lý giáo dục. Triết lý giáo dục mà nền giáo dục này đang thiếu và cần, chính là như vậy. Nó loay hoay nhiều năm nay, rối rắm, luẩn quẩn, vừa trì trệ vừa tích cực, càng tích cực thì càng rối rắm, lúng túng, và lại càng… trì trệ, chính là vì thiếu một triết lý như vậy làm cốt lõi, nhất quán, quyết liệt, xuyên suốt. Phải từ yêu cầu của một cuộc chấn hưng dân tộc sâu sắc và toàn diện sau khi cách mạng và chiến tranh đã quét sạch cho ta những trở lực “ngoài da” để suy tính về một nền giáo dục khác, cho một thời đại khác của dân tộc. Không làm thế, thì nói cho đúng, chỉ có thể tạo ra được những công cụ cho những công việc gì đó chứ không phải là giải phóng thực sự con người, để cho chúng ta có được một đất nước của những con người tự do. Có lẽ cũng có thể hiểu như thế về câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Có độc lập mà không có tự do thì độc lập cũng là vô nghĩa”.
Gần đây có người hỏi tôi muốn nói cụ thể điều gì khi nhấn mạnh yêu cầu tự trị đại học? Tôi hiểu tự trị đại học theo đúng tinh thần đó. Cách mạng, chính trị là vô cùng quan trọng. Nhưng chỉ có văn hóa, chỉ có văn học nghệ thuật, chỉ có giáo dục mới xây dựng nên được con người thật sự tự do. Giáo dục có tính độc lập của nó, sau cách mạng và chính trị. Nếu không thì sự “cởi trói” mà cách mạng và chính trị đem lại … cũng chẳng để làm gì. Xin nhắc lại: Đây chính là ý của Hồ Chí Minh.
Đương nhiên, từ điểm xuất phát này, còn có vô số những công việc cụ thể, nhọc nhằn, khó khăn cần làm, những bước đi cụ thể cần suy tính rất kỹ càng, những “chiến lược” từng đoạn cần được vạch ra và thực hiện. Nếu không theo tinh thần lớn đó, thì khó thoát ra được khỏi tình thế luẩn quẩn đã lâu, để sống được đàng hoàng cùng thiên hạ văn minh.
Mong thay!

Nguyên Ngọc

Nguồn: Tạp chí Tia Sáng.

 

thơ thơ July 18, 2009

Filed under: Poems — butchitoru @ 3:45 pm

Vườn xưa
Tế Hanh (1921-2009)

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như ngày nắng tránh ngày mưa
Như mặt trăng mặt trời cách trở
Như sao Hôm sao Mai không cùng ở
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Hai ta như sen mùa hạ cúc mùa thu
Như tháng mười hồng tháng năm nhãn
Em theo chim em đi về tháng tám
Anh theo chim cùng với tháng ba qua

Một ngày xuân em trở lại nhà
Nghe mẹ nói anh có về anh hái ổi
Em nhìn lên vòm cây gió thổi
Lá như môi thầm thĩ gọi anh về

Lần sau anh trở lại một ngày hè
Nghe mẹ nói em có về bên giếng giặt
Anh nhìn giếng giếng sâu trong vắt
Nước như gương soi lẻ bóng hình anh

Mảnh vườn xưa cây mỗi ngày mỗi xanh
Bà mẹ già tóc mỗi ngày mỗi bạc
Hai ta ở hai đầu công tác
Có bao giờ cùng trở lại vườn xưa?

Anh đến với em là lẽ tất nhiên


Anh đến với em là lẽ tất nhiên
Như con sông trở về với biển
Như qua mùa đông mùa xuân lại đến
Như sau cơn mưa là lúc mặt trời lên.

Anh đến với em là lẽ tất nhiên
Như cái hoa đến ngày kết quả
Như con chim buổi chiều quay về tổ
Như máu trong người trở lại tim

Anh đến với em là lẽ tất nhiên
Như quyển truyện phải đến hồi kết thúc
Như cây kim địa bàn quay về hướng bắc
Cuộc đời anh hướng đến cuộc đời em

Anh đến với em là lẽ tất nhiên.

 

Sound of silence July 7, 2009

Filed under: My life, music — butchitoru @ 2:54 pm

Hello darkness, my old friend,
I’ve come to talk with you again,
Because a vision softly creeping,
Left its seeds while I was sleeping,
And the vision that was planted in my brain
Still remains
Within the sound of silence.
In restless dreams I walked alone
Narrow streets of cobblestone,
‘Neath the halo of a street lamp,
I turned my collar to the cold and damp
When my eyes were stabbed by the flash of a neon light
That split the night
And touched the sound of silence.

And in the naked light I saw
Ten thousand people, maybe more.
People talking without speaking,
People hearing without listening,
People writing songs that voices never share
And no one dare
Disturb the sound of silence.

“Fools” said I, “You do not know
Silence like a cancer grows.
Hear my words that I might teach you,
Take my arms that I might reach to you.”
But my words like silent raindrops fell,
And echoed
In the wells of silence

And the people bowed and prayed
To the neon god they made.
And the sign flashed out its warning,
in the words that it was forming.
And the sign said, “The words of the prophets

are written on the subway walls
And tenement halls.”
And whisper’d in the sounds of silence.

 

To the sea July 5, 2009

Filed under: My writings — butchitoru @ 7:42 pm

A young man was riding his bicycle alone on the road. He looked non-emotion with the sun-glasses on his face. The sun was going down, and the breeze gently fondled him. He breathed deeply and slowly, fill up his body with the salty, humid cool wind. No one knows if he was smiling or not.
As he was concentrating on his breathing, he didn’t know there was another bicyle in front of him. Suddenly, he heard a giggle. It was so cute and joyful. It was from two little kids, a boy and a girl, around 4 or 5, who were on the other bike. A young girl was cycling carrying them. And they were giggling while turning back look at him.
He was surprised at first. Then he realized what was going on. He looked like a mystery but ridiculous guy with those sunglasses, and he seemed to be chasing them on that sporty bike. The kids felt excited. They giggled, then laughed, as the older girl continued to cycle. None of them wearing any shoe or sandal. Just bare feet.
Ah hah, he thought, let’s do it then. He began to act more scary, more hurry, more like he gonna catch them. He grinned, he tried to distort his face and his mouth and show his teeth in every way. The more he acted, the louder they laugh. The little boy even waved his little hand to challenge him. Their faces were bright, their voices were high and joyful. The oldest girl, realized the situation, tried to ride faster and faster. And of course, as he acted to go faster, he was slowing his bike. Two bikes, one following other, was going on the road in golden sunset light along with the most pure, beautiful and lovely sound in the world.
They continued their chasing for awhile until they reached what they aimed to go. As they approaching the beach, along with the sound of waves, is the sound of thousands of children. It was, to him, a stunning scene. He felt, and he knew they felt, like a drop of water joining the sea.
Three kids waved goodbye. He waved. No one knows if he was smiling or not.

12.6.2009

 

Đứng đường bán hoa February 9, 2009

Filed under: My life — butchitoru @ 11:08 am

Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Photobucket
Hehe, vui dã man.

8-3 lại bán tiếp. Bạn nào ở Huế dịp ấy thì ghé ngã tư Điện Biên Phủ – Nguyễn Huệ nhá. Có trong friend list butchi sẽ có giá khuyến mại :P

 

NGƯỜI GIEO GIỐNG TỰ DO TRÊN ĐỒNG VẮNG February 1, 2009

Filed under: Poems, Uncategorized — butchitoru @ 3:02 am

Thơ Pushkin. Người dịch: Hoàng Trung Thông

Là người gieo giống tự do trên đồng vắng
Tôi ra đi từ sáng sớm tinh mơ
Bàn tay tôi trong trẻo ngây thơ
Gieo mầm sống trên luống cày nô dịch
Nhưng tôi chỉ phí thời gian vô ích
Cả tư tưởng và việc làm thiện chí của tôi
Nhân danh thanh bình, cứ gậm cỏ đi thôi!
Tiếng vinh dự không thể làm tỉnh giấc
Tự do đâu cho một bầy súc vật?
Chúng chỉ cần cắt xẻo, cạo lông
Đời nối đời, di sản chúng nó chung
Là ách nặng đeo chuông và roi vọt.

 

GS Trần Hữu Dũng – Thư cho một bạn trẻ January 12, 2009

Filed under: My Age — butchitoru @ 6:45 am
Tags: ,


Bạn quý mến,

Rất tiếc là tôi chưa được quen thân với bạn, nhưng tôi đã thấy bạn từ bục giảng của tôi, nghe bạn tâm tình qua những bức thư đầy bức xúc về đất nước, về tương lai, và về nhân loại nữa. Qua đó tôi cảm nhận một nghịch lý: bạn vừa có niềm tin ở một tương lại xán lạn hơn, nhưng niềm tin ấy lại bị xao xuyến do cái hiện tại này. Bởi vậy, nhân dịp xuân về, Tết đến, trước hết tôi cầu mong bạn giữ vững niềm tin ấy, và có ít dòng tâm sự.

Trước tiên, một lời tạ lỗi…

Tôi không có “kinh nghiệm” hay lời dặn dò gì để truyền lại cho bạn, bởi vì tôi nghĩ mỗi thế hệ phải tìm một tương lai cho mình. Hơn nữa, dù nghĩ rằng chúng tôi (thế hệ trước các bạn) đã có nhiều cống hiến nhất định cho đất nước (chúng ta không bao giờ quên hàng triệu người thế hệ tôi, và trước nữa, đã hi sinh để mang lại độc lập, thanh bình và thống nhất cho tổ quốc), chúng tôi cũng đã có rất nhiều lỗi lầm, yếu kém… Các bạn đang tiếp nhận một xã hội và một đất nước còn nhiều mảng tối, thậm chí có người sẽ nói là, về vài mặt, chúng có chiều đi xuống. Cụ thể, không ai có thể thành thực mà nói rằng nước ta có một nền giáo dục đáng hãnh diện. Và sông núi, ruộng đồng! Có ai dám nói rằng tất cả đều đẹp đẽ như xưa? Để lại cho các bạn một nền giáo dục như thế, núi sông như thế, có lẽ là “tội” lớn nhất của những người mà trách nhiệm là chuẩn bị cho tương lai các bạn, là bảo quản giang sơn cho các bạn. Những người ấy là chúng tôi.

Tôi phải nhìn nhận rằng trong những năm gần đây, khi cơn lốc “thị trường” bao phủ lên đất nước ta thì (cùng với sự phồn vinh vật chất mà nó đem lại) một bộ phận không nhỏ chúng tôi, nhất là giới được xem là “trí thức”, đã tha hóa. Chúng tôi đã góp phần không nhỏ vào sự “chụp giật” của cuộc sống ngày nay, một số không ít chúng tôi đã co cụm lại, chỉ lo cho gia đình, con cháu mình mà không nghĩ đến các bạn, thái độ đạo đức giả của một số chúng tôi hẳn đã làm nhiều bạn chán ngán, buồn phiền. Một số chúng tôi đã có quyền, có lợi, nhưng chưa làm đầy đủ bổn phận với các bạn. Bởi vậy, trước hết, tôi có lời xin lỗi bạn, thế hệ trẻ. Tôi không dám thay mặt ai để xin lỗi, chỉ xin lỗi cho cá nhân tôi, song tôi nghĩ nhiều người ở thế hệ tôi cũng cùng một tâm trạng.

Nhưng dù hiện tại có thế nào thì tương lai cũng sẽ đến, và tương lai đó sẽ trong tay các bạn. Chẳng những tôi không biết hình tượng vật chất, cơ cấu xã hội hay thể chế kinh tế của tương lai ấy sẽ thế nào, tôi còn ngờ rằng bạn sẽ phải đương đầu với những vấn đề triết lý cực kỳ cơ bản mà tôi chưa thể hình dung. (Ví dụ như với sự tíến bộ của y sinh học, nhất là công nghệ nháy (cloning), đông lạnh thân xác… , tất sẽ có những câu hỏi: “con người là gì?”, “sự sống là gì?”) Mỗi thế hệ phải đi vào một tương lai hoàn toàn mới mà không thế hệ nào trước đó hình dung được. Dù vậy, có vài vấn đề mà tôi nghĩ sẽ là cái trục mà tương lai sẽ xoay quanh. Tôi xin chia sẻ với các bạn.

Toàn cầu hóa và dân tộc tính

Chúng ta đang vào một kỷ nguyên trong đó thế giới thay đổi với một nhịp độ và tầm mức chưa từng thấy trong lịch sử nhân loại, vùn vụt và sâu rộng. Đó là tiến trình vũ bão của cái gọi là “toàn cầu hóa” (gọi cho gọn, dù tôi không thích cho lắm cụm từ thời thượng này). Tin tức từ khắp nơi trên thế giới đến với mọi người từng phút, từng giờ. Các bạn đi du học, du lịch, gặp gỡ bạn bè, thân nhân, từ các nước về thăm nhà. Toàn cầu hóa đem lại cho bạn vô vàn cơ hội, và bạn nên sẵn sàng (trong tư duy cũng như trong kỹ năng) để tận dụng những cơ hội ấy (một việc cụ thể là trau dồi ngoại ngữ), nhưng nó cũng đặt ra nhiều vấn đề mà tôi mong các bạn cùng suy nghĩ.

Thứ nhất là sự giữ gìn dân tộc tính. Tôi không khẳng định là bạn phải bảo tồn dân tộc tính (cũng xin lưu ý các bạn rằng không phải mọi người đều nhất trí “dân tộc tính” là gì) nhưng tôi muốn chúng ta (bạn lẫn tôi) cùng suy nghĩ có nên “giữ gìn bản sắc dân tộc”, theo nghĩa nào đó, và nếu nên thì nên giữ phần nào, đến mức độ nào. Chọn lựa ấy đòi hỏi những cân nhắc khách quan (không để những sô-vanh phi lý chi phối) song cũng khó thể không chủ quan, bởi vì nó sẽ phản ảnh tình cảm (nào đó) đối với quê hương đất nước, nguồn cội của mình. Vươn ra với thế giới không có nghĩa là chúng ta sẽ xóa nhòa những đặc thù của văn hóa, của ngôn ngữ chúng ta, nhưng với những cơ hội tràn vào từ ngoài là xu thế đồng hóa (tưởng tượng xem: đời sống sẽ dễ dàng biết bao nếu mọi người trên thế giới đều sử dụng… tiếng Anh!). Trong lúc đó, “dân tộc tính” (tạm gọi như vậy) là cái đặc thù. Làm sao để khai thác mọi cơ hội của toàn cầu hóa trong lúc giữ đến một chừng mực nào đó tính đặc thù, cái cá biệt của chúng ta, là một bài toán cho các bạn

Thứ hai, toàn cầu hóa không có nghĩa là bạn không còn là một công dân của một nước. Nói cách khác, dù bạn có trở thành một “công dân quốc tế” thì bạn cũng vẫn là thành viên của một “địa phương” nào đó. Dù bạn có sang Âu, sang Mỹ sống thì bạn cũng phải đối diện với những vấn đề của cộng đồng, địa phương ấy … Đó không nhất thiết là một ràng buộc đạo đức nhưng là m
ột yêu cầu xã hội thiết thân (và thiết yếu!). Chọn lựa sự dung hòa, kết hợp những trách nhiệm ấy, chính là đóng góp cụ thể vào sự xích gần nhau giữa người và người, xuyên qua lằn ranh quốc gia và chủng tộc. Nói như nhà xã hội học Ted Ward, bạn sẽ là thành viên của một nền “văn hóa thứ ba”.


Nếu bạn đã có dịp du học, hoặc đang du học, thì bạn thật là may mắn, và một quyết định mà bạn phải đối đầu là có nên về nước hay không. Bạn sẽ ngạc nhiên khi nghe ý kiến tôi: điều đó không thật sự là quan trọng! Tôi tin rằng bạn đủ sáng suốt để quyết định cho chính bạn, bởi nó tùy vào hoàn cảnh, ngành nghề, của mỗi người, và nhất là – trong kỷ nguyên đi đi về về dễ dãi như nay – nó không còn là một quyết định cho suốt đời bạn, không thể thay đổi sau này. Nhưng tôi nghĩ rằng nhu cầu “làm cái gì đó” cho đồng bào mình, nhất là khi đại đa số những người ruột thịt ấy vẫn còn cực kỳ nghèo khổ, là một ước muốn cơ bản nhất của con người. Cũng không nên xem hồi hương là “cống hiến” một chiều của bạn cho đất nước, bởi vì sống giữa lòng dân tộc bạn còn nhận được những tình cảm yêu thương, những ý nghĩa của sự sống, mà bạn không tìm được nơi nào khác.

Nhìn rộng ra, tôi nghĩ rằng khi mà sự tương phản giữa dân tộc và quốc tế mờ nhạt đi (vì sự di chuyển dễ dàng) thì những vấn đề tài nguyên, môi trường – nói cách khác là sự phát triển bền vững – sẽ trở thành sâu sắc, bức xúc hơn. Toàn cầu hóa, nhìn theo góc cạnh này, không có nghĩa là không còn biên giới quốc gia, cụ thể là không còn những tranh chấp giữa các quốc gia, dân tộc. Chỉ là, trong kỷ nguyên mới này những xung khắc cũ sẽ tái hiện qua những phương diện khác: tranh chấp về tài nguyên (nhất là năng lượng) và môi trường. Chúng ta phải tỉnh táo, không thể ngây thơ. Chúng ta chia sẻ những quan tâm của quốc tế, hợp tác để tìm những giải pháp chung cho nhân loại, nhưng cũng không quên những quyền lợi thực tế mà mỗi quốc gia đều phải bảo vệ cho mình, toàn cầu hóa hay không.

“Hai văn hóa” và những giá trị nhân văn

Trên đây tôi đã nói về sự giằng co giữa cái đặc thù của dân tộc và cái chung của thế giới, một sự giằng co mà tiến trình toàn cầu hóa làm nổi bật, thậm chí căng hơn. Nhưng còn một bộ mặt nữa trong đời sống của chúng ta – và sẽ rõ hơn trong tương lai các bạn – đó là sự quan trọng của công nghệ trong sinh hoạt hàng ngày. Bộ mặt này sẽ gây ra một sự giằng co nữa, giữa một nền văn hóa dựa vào công nghệ, vào kinh tế thị trường, và một nền văn hóa nhân văn, đi sâu hơn vào con người, mà tượng hình là văn chương và nghệ thuật.

Gần nửa thế kỷ trước, tác giả C.P. Snow (người Anh) đã báo động về cái mà ông gọi là sự xung khắc của “hai văn hóa”: văn hóa nhân văn và văn hóa công nghệ. Dù cảnh báo này của C.P. Snow đã bị nhiều người cho là một báo động lầm, chí ít cũng là phóng đại (hai tư duy nhân văn và tư duy công nghệ tuy hơi khác nhau nhưng không tương phản như Snow nghĩ), nó là tiền thân của một bức xúc thời thượng: “liệu thị trường có xói mòn đạo đức?”. Cũng vậy, sự tranh chấp giữa hai “văn hóa” (theo cách nói của C.P. Snow): khoa học và nhân văn sẽ làm nổi bật sự xung khắc giữa văn hóa thương mại và văn hóa “ưu tú” (tạm gọi như thế). Nhiệm vụ của bạn sẽ không đơn thuần là bảo tồn những “giá trị cổ truyền”, nhưng là khuếch trương văn hoá nhân văn – một phần đó sẽ là văn hóa dân tộc, nhưng một phần nào nó sẽ đòi hỏi sự sáng tạo của các bạn, cố nhiên là với cái tố chất của dân tộc mình.

Sự hội nhập vào thế giới mang theo nhiều nguy cơ tiềm ẩn, và có vẻ ngày càng trầm trọng. Cuộc sống hối hả, vội vàng, để lại cho chúng ta ngày càng ít thời giờ để suy nghĩ, nhìn lại nội tâm. Đó là thế giới của CNN, của Google, của Wikipedia… Chúng ta có thể tưởng là mình “biết” nhiều, nhưng đó là một thứ kiến thức manh mún, rộng mà không sâu. Thông tin tràn ngập song hầu hết là vô ích. Bạn nên nhín chút thời gian để lắng đọng, ngồi lại một nơi cô tịch để trầm tư.

Với sự tiến bộ của công nghệ thì vai trò của văn chương, nghệ thuật có phần bị lu mờ. Đây là một xu hướng toàn cầu mà nhiều trí thức khắp nơi đã báo động, than phiền. Tôi vẫn biết rằng không phải tất cả các bạn đều “kiếm cơm” trong lãnh vực văn hóa. Các bạn sẽ là nhà kinh doanh, là kỹ sư, là nhà nông… nhưng tôi mong các bạn lưu tâm, và khuyến khích – ít nhất là trong cương vị một người “tiêu dùng” văn hóa – sinh hoạt ấy, bởi vì một xã hội không thể là “phát triển” nếu nó thiếu vắng những sinh hoạt văn hóa sống động, những người thẩm định văn hóa có trình độ, và những người đó là bạn, chính là bạn, dù công việc kiếm cơm hàng ngày của bạn nằm trong lãnh vực nào.

Thay lời kết

Trên đây tôi đã thử đưa một cái nhìn khách quan về những vấn đề mà bạn sẽ đương đầu, và tôi đã hứa sẽ không dám “dạy” bạn điều gì. Thế hệ đi trước bao giờ cũng có nhiều kinh nghiệm nhưng tôi xin để những người khác, sống nhiều hơn và hiểu biết hơn tôi, truyền lại các bạn những kinh nghiệm ấy, và tất nhiên, sẽ có nhiều điều mà chính các bạn, cũng như những thế hệ trước, phải tự trải nghiệm. Tôi chỉ xin chia sẻ với bạn một số linh cảm của tôi về tương lai và gửi gắm vài hoài vọng.

Ở nước ta sự chênh lệch giàu nghèo, những bất công trong xã hội, còn quá nhiều (và có vẻ ngày càng sâu đậm hơn!). Nếu bạn được may mắn là người khá giả ở thành thị thì thỉnh thoảng cũng nên nhìn đến những người mà đời sống vật chất khó khăn hơn mình (tôi không nói là “bất hạnh”, vì chắc chắn là họ không cần thương hại, và cũng chưa chắc là bạn hơn họ về trí thức, về những đức tính khác của con người). Phải nghĩ rằng chỉ vì một tình cờ nào đó của lịch sử mà bạn được như ngày nay. Tôi luôn nghĩ rằng một xã hội tươi đẹp – một xã hội đáng sống – là một xã hội mà mọi người đều có cơ hội tiến thân, một xã hội mà mọi người “tử tế” với nhau… Đối với những bạn đang có đời sống chật vật thì tôi chỉ xin bạn nhẫn nại và cố gắng, và hãy tin rằng không gì là không có thể…

Nhưng, bạn còn trẻ, trước mặt bạn còn là những ngày nồng ấm của yêu đương, hãy dìu nhau đi trong những buổi chiều hồng, hãy dành nhiều thời giờ cho những đứa con còn đang lớn, với người vợ trẻ, ông chồng chưa … già. Tuổi trẻ không chỉ là chặng đường chuẩn bị cho tương lai. Tuổi trẻ còn là một khoảng hiện thực của chính cuộc đời bạn, với những sướng vui mà bạn sẽ chẳng bao giờ tìm lại được. Bạn hãy tận hưởng tuổi trẻ ấy. Và ngay những lúc bạn … thất tình (hay ve vuốt thú đau thương?), bạn nên nhớ một điều: rồi tất cả cũng qua đi. Điều cần nhất là phải luôn luôn giữ gìn sức khỏe, và tránh những gì mà hậu quả sẽ làm bạn hối tiếc sau này.

Tôi mong rằng trong số các bạn đọc thư này hôm nay, rồi đây sẽ có người viết một bức thư như thế này cho một bạn trẻ khác, và nước Việt Nam – không, cả thế giới này – lúc ấy sẽ đẹp đẽ hơn, và bạn sẽ mãn nguyện về những đóng góp của bạn cho cuộc đời này, trong bất cứ lãnh vực nào mà bạn chọn lựa.

Cái nguy hiểm là chúng ta sẽ nãn chí, chua cay, cho là mình không thể làm gì được nữa… Dù hiện tại có vẻ ảm đạm như thế nào (và thực sự thì nó không ảm đạm như bạn tưởng!), khó khăn ra sao, chúng ta phải giữ niềm tin, và tích cực cùng nhau thực hiện niềm tin ấy, vì đó là bổn phận của chúng ta đối với chính mình…

Xin chúc bạn và gia đình một năm Kỷ Sửu đầy thành công và may mắn.

Trần Hữu Dũng
Tết Kỷ Sửu, 2009

from Viet-studies

 

30 Năm Trước, Tự Sự Của Một Người Từng Là Lính January 6, 2009

Filed under: History — butchitoru @ 10:40 am
Tags: ,

Entry mới của bác Huy Đức:


Ngày 17 tháng 2 năm 1979, khi vừa vào đến cổng trường, chúng tôi nhận được tin: Vào lúc mờ sáng, “Trung Quốc đã đem quân bắn giết dọc theo Biên giới 6 tỉnh phía Bắc nước ta”. Sáng ấy, nhiều đứa trong chúng tôi đi thẳng từ trường phổ thông đến ủy ban nhân dân xã. Chúng tôi đăng ký nhập ngũ mà không kịp nói một câu với chính cha mẹ của mình.

“Quân bành trước Bắc Kinh” đã kéo chúng tôi từ lớp học ra thẳng chiến trường. Nhưng, không hiểu sao nhà trường hôm nay, lại không nói gì về cuộc chiến tranh kéo dài thế giằng co hơn 10 năm ấy. Ba mươi năm trước, những “đàn trẻ nhỏ”, chạy “từ Biên giới về”. Ba mươi năm sau, những đứa trẻ ấy lớn lên, biết thêm: Tháng 4/1956 nhân khi quân Pháp vừa rút khỏi Việt Nam, Trung Quốc, lúc này đã trở thành “xã hội chủ nghĩa anh em”, chiếm đảo lớn nhất thuộc Hoàng Sa. Ngày 19-1-1974, sau khi Trung Quốc ký Thông cáo chung Thượng Hải với Mỹ và sau Hiệp Định Paris 1973, Mỹ rút lui khỏi Việt Nam, Trung Quốc, vẫn đang là “xã hội chủ nghĩa anh em”, đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, giết 58 chiến sỹ Hải Quân Sài Gòn, chiếm đảo. Ngày 14-3- 1988, Trung Quốc lại tấn công một số đảo đá của Trường Sa giết hại 74 người lính Hải quân Việt Nam và, từ đó, chiếm luôn những hòn đảo ấy.

Rồi. Ngày 12-11-2008, Trung Quốc tuyên bố đầu tư 29 tỷ USD cho một dự án “khảo sát và khai thác Biển Đông”. Trong đó, bao gồm cả những biển đảo của Việt Nam mà Trung Quốc vẫn còn chiếm giữ. Bốn tháng trước, 7-2008, khi hãng dầu khí Mỹ, ExxonMobil, hợp tác với Việt Nam trong một dự án thăm dò ở Nam Côn Sơn, Trung Quốc đã gây áp lực với ExxonMobil để họ phải rút lui. Năm 2007, Trung Quốc đã gây áp lực buộc BP ngưng hoạt động trong dự án dầu khí có vốn đầu tư 2 tỷ USD với Việt Nam ở hai vùng Mộc Tinh, Hải Thạch. Năm 1994, Trung Quốc phản đối hợp đồng dầu khí giữa Việt Nam và Mobil ở vùng Thanh Long. Chỉ hai năm sau khi họ ký hợp đồng thăm dò dầu khí với công ty Crestone ở vùng Vũng Mây-Tư Chính. Tàu Trung Quốc “đi lại nghênh ngang” ngoài Biển Đông, trong khi, các dự án của Việt Nam thì phải cay đắng rút lui mà không làm gì được.

Thế hệ chúng tôi, lớn lên “dưới mái trường xã hội chủ nghĩa”, có nhiều sự kiện xảy ra ở Thủ đô, ở Biên giới và ngoài Biển mà chúng tôi không hề được biết. Chúng tôi vẫn hát về Mao Trạch Đông như “mặt trời lên” khi mà “Bác Mao” lần lượt đem quân chiếm Hoàng Sa, rồi Trường Sa. Chúng tôi hát, “núi liền núi, sông liền sông” khi mà nhiều ngọn núi, khúc sông đã không còn nữa. Cho đến ngày 17-2… Được cầm súng, được “vạch mặt, chỉ tên” quân xâm lược cũng là hạnh phúc. Cho dù, nhiều khi ngẫm lại, sự thật chỉ được thông tin vừa lúc, đủ để chúng tôi tất tả lên đường.

Không như chúng tôi, các bạn trẻ hôm nay không ngồi chờ nhà trường “mớm” cho gì thì biết nấy. Nhưng bi kịch của họ lớn hơn… Thật không dễ dàng gì khi biết một kẻ đang rình rập bên ta mà vẫn phải nghe họ xưng là “láng giềng tốt”; một kẻ đem tàu chiến sang giết người giữ đảo của ta vẫn xưng là “đồng chí tốt”; một kẻ dùng áp lực để đuổi đối tác tìm dầu của ta mà vẫn nhận là “bạn bè tốt”; một kẻ ngang nhiên hút dầu ngoài biển của ta mà vẫn phải gọi là “đối tác tốt”.

Khi tôi đang viết entry này thì đọc được trên blog Nông Dân Gió Lào, người Trung Quốc sẽ tổ chức một lễ hội hoa đăng ở Hà Nội, dự kiện bế mạc vào ngày 17-2 năm nay. Nông Dân Gió Lào cũng dẫn tin trên Vietnamnet nói rằng, năm 2004, người Trung Quốc cũng đã tổ chức một lễ hội hoa đăng ở Đà Nẵng, khai mạc đúng vào ngày 19-1. Năm ấy, họ kết 30 cụm hoa đăng, theo Nông Dân Gió Lào, ứng với 30 năm ngày Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, một huyện đảo thuộc về Đà Nẵng (19/1/1974- 19/1/2004). Có thể bởi “tình đồng chí” mà khi cấp phép, chính quyền địa phương đã không quan tâm lắm đến sự trùng hợp này. Nhưng, Nông Dân Gió Lào cho rằng các “chú Tàu” thì không làm gì “ngẫu nhiên”, kể cả việc, hồi cuối tháng 11, họ cho tàu mang tên Trịnh Hòa, người mà họ nói là đã phát hiện ra Hoàng Sa và Trường Sa, cập vào Đà Nẵng.

Năm 1988, Trung Quốc đánh chiếm mấy đảo đá ở Trường Sa. Việt Nam chuyển sang đường lối quan hệ “đa phương”. Thật may mắn là Việt Nam đã không rơi vào tình thế “đơn phương” với một gã khổng lồ vừa đánh trộm vừa xưng là “anh em, đồng chí”.

Nhà nước có những lý do để cư xử với lân bang chín chắn. Nhưng, sự “bồng bột” của dân cũng cần thiết để sự thật, đôi khi, có cơ hội phơi bày. Người dân không bao giờ muốn chiến tranh, vì nếu nó xảy ra, chỉ có họ mới là người ra trận. Tôi đã nói chuyện với nhiều người dân ở Biên giới hồi tháng 3-1979. Tôi có nhiều người bạn là lính ở sư đoàn đóng quân tại Lạng Sơn trong ngày 17 tháng 2. Cái mà chúng ta nói là “chiến thắng” cũng đã phải trả bằng đầu rơi máu chảy.

Tôi có hơn 3 năm ở Campuchia trong giai đoạn chiến tranh, biết câu chuyện Khmer Đỏ chống lại Việt Nam chỉ 2 tuần sau khi nhờ Việt Nam mà có trong tay quyền bính. Biết, sau lưng Pol Pot có bàn tay của ai. Nhưng, tôi cũng đã gặp nhiều người Việt-Gốc-Hoa, trong số hơn 675 nghìn người Việt-Gốc-Hoa phải ra đi trong những năm sau 75, 78. Nhiều người lúc ấy không biết tiếng Hoa, nhiều người đã từ lâu coi mình là dân Việt. Nhiều người khi rời Việt Nam đã không chọn Trung Quốc như là tổ quốc. Vận nước, phải chăng đã không tránh được thế đối đầu? Trung Quốc năm nào cũng nhắc lại cuộc chiến 17-2-1979, tại sao Việt Nam lại không bàn về nó một cách công khai và rút ra bài học cho mình.

Tôi có mặt ở Hồ Gươm vào cái đêm bóng đá Việt Nam thắng Thái Lan ở lượt đi (24-12). Có mặt trên đường phố Sài Gòn ngay sau khi bóng đá Việt Nam vô địch (28-12). Đi trong thác lũ người tràn ra đường hôm ấy, nghĩ, chỉ bóng đá thôi ư mới có được sức mạnh thế này. Ngay từ thế kỷ 19, khi mà lãnh thổ của một quốc gia vẫn còn có thể mở rộng bằng chinh phục, Định ước Berlin 1885 và Tuyên bố Lausanne 1888, đã nói: “Dùng vũ lực để chiếm giữ một vùng lãnh thổ đã có chủ là một hành động phi pháp”. Công ước của Liên hiệp quốc về luật biển (1982) cũng tái khẳng định tinh thần này. Chúng ta chưa có bom hạt nhân, chúng ta chưa có tàu to súng lớn. Đất nước ta rất nhỏ. Dân ta không nhiều. Sức mạnh của chúng ta chính là chủ quyền pháp lý.

Ba mươi năm đã trôi qua kể từ khi chúng tôi sục sôi tiến về Biên giới, đảo vẫn mất mà đất nước lặng im. Thầy giáo dạy sử ở trường lặng im. Báo chí văn chương lặng im… Tôi không rõ không khí ở trong các phòng họp căng thẳng ra sao. Chỉ biết, nếu ngồi đó, tôi sẽ lạnh lưng khi bên ngoài im lặng. Chỉ có sát cánh với nhân dân mới có thêm sức mạnh, đừng để cho từng chiếc đũa bị tách ra và bẻ gãy từ từ.

Đọc thêm:
1. Chống diễn biến hòa bình của chủ nghĩa bành trướng hiện đại Trung Quốc – Bùi Minh Quốc

2. Hiến chương 08 (Trung Quốc)

 

teacher November 20, 2008

Filed under: Uncategorized — butchitoru @ 12:43 pm

“Thử tưởng tượng, ta bước vào lớp, đứng một lúc, chờ lớp học yên lặng, nhìn đám học trò mở tập vở và bấm bút lách cách, rồi ta nói cho chúng biết tên ta, viết cả lên bảng, rồi bắt đầu buổi học.
Trên bàn giáo viên, ta có giáo trình tiếng Anh của trường. Ta sẽ giảng về chính tả, từ vựng, văn phạm, tập đọc, tập làm văn, văn học.
Ta chỉ mong cho sớm đến giờ giảng văn. Lúc ấy sẽ có thảo luận sôi nổi về thơ, kịch, tiểu luận, tiểu thuyết, truyện ngắn. Một trăm bảy mươi cánh tay học trò giơ cao và rồi chúng sẽ tranh nhau kêu: Em, thưa thầy McCourt, em, em muốn phát biểu.
Ta mong đợi chúng sẽ nói gì đó. Ta không muốn chúng chỉ ngồi trố mắt nhìn ngơ ngẩn trong khi ta cố gắng làm cho buổi học được sinh động.
Ta sẽ say sưa với những tên tuổi của nền văn học Anh và Mỹ. Những giờ ta có với Carlyle và Arnold, Emerson và Thoreau mới thú vị làm sao. Với Shelley, Keats, Byron, nhất là “bạn già” Walt Whitman thì khỏi phải nói. Lũ học trò sẽ học không biết chán những trường phái lãng mạn, nổi loạn và phản kháng ấy. Mà ta cũng vui lây, vì trong thâm tâm và trong những giấc mơ, ta vốn là kẻ lãng mạn cuồng nhiệt. Ta thấy chính mình đứng trên chiến lũy.
Các hiệu trưởng và những nhân vật có quyền hành khác đi ngoài hành lang sẽ nghe thấy tiếng hò reo phấn khích trong lớp học của ta. Họ sẽ sửng sốt ghé nhìn qua ô cửa để thấy bao cánh tay giơ cao, thấy nét hăm hở và phấn khích trên khuôn mặt những cô cậu này – những thợ thiếc, thợ điện, thợ thẩm mỹ, thợ mộc, thợ cơ khí, tốc ký viên, thợ máy tương lai.“…

“Người thầy”, Nhã Nam và NXB VHSG, 2008

Mừng thầy cô của tôi và mừng cả tôi – dự bị thầy giáo ạ. Long journey await! :)

 

Để nhớ về em October 17, 2008

Filed under: Poems — butchitoru @ 10:13 am

Để nhớ về em
Nguyễn Việt Chiến

Tôi yêu khóe miệng không tắt
những ban mai lầm lẫn sương mù
em chẳng vàng thu
em dìu dặt một bờ bến lạ

Tôi đi qua
bóng một sân ga
chẳng con tàu nào chở tôi về phía thương yêu cũ
chẳng con tem nào đưa tôi về địa chỉ yêu dấu cũ
chẳng câu thơ nào cõng tôi về tuổi thơ cũ
chẳng ánh sáng nào giúp tôi thoát khỏi những ám ảnh cũ
chẳng con đường nào nâng tôi lên qua những dằn vặt cũ
chẳng máy giặt nào giặt hộ tôi những đau khổ cũ
chẳng máy điều hòa nào có thể cứu nổi một sa mạc cũ
đang phổng phao lớn dần những đói khát trong tôi

Bởi thế
tôi chỉ dám cất giấu trong câu thơ chật hẹp của mình:
một ít gió còm cõi từ mùa hạ cũ
một ít nắng đăm chiêu từ mùa đông cũ
một ít mây chiều bơ vơ trên mái phố cũ
một chút bụi tư tưởng rơi ra từ cuốn sách cũ
một hơi ấm thì thào trong bài hát cũ
một mùi vị hoang dại ngọt ngào trong da thịt cũ

Để nhớ về em.

Ánh sáng

I
Lối thoát duy nhất của anh
Là phải tự vạch một con đường đi qua chồng sách này
Đi qua sự nghèo nàn của ngôn từ
Để gặp một sợi chỉ ánh sáng nối hai bờ vực tối thẳm sâu

II
Chúng ta ngồi dưới bóng râm
Và nói những điều ồn ào nóng nực
Nhưng khi lê bước dưới mặt trời cháy gắt
Con người thường không nói gì

III
Người ngủ một mình là người cô đơn nhất
Người không ngủ là người cô đơn nhiều hơn
Họ đối thoại với bóng đêm – kẻ canh giữ ánh sáng
Người làm cỏ và những chùm trái mộng
Kẻ đang thức là cơn khát của những người ngủ say

IV
Chúng ta không thể nào hiểu được ngôn ngữ của loài kiến
Con người bất lực trong cách giải thích
Bởi chúng ta chẳng có gì cả
Ngoài cát và mưa, và cỏ, những nỗi buồn…

Mưa tháng giêng

Tháng giêng mưa ngoài phố
Mưa như là sương thôi
Những bóng cây dáng khói
Như mộng du bên trời

Tháng giêng ngày mỏng quá
Nỗi buồn nghe cũ rồi
Mà bên kia tờ lịch
Nỗi niềm mưa xót rơi

Tháng giêng mưa trên tóc
Những người đi lễ chùa
Theo giọt mưa cầu phúc
Tiếng chuông từ bi mơ

Tháng giêng mưa dưới bến
Mỏng mai cô lái đò
Mắt mưa em lúng liếng
Trói tôi bằng vu vơ

Tháng giêng mưa như cỏ
Non xanh đến tận trời
Trước vô cùng năm tháng
Thơ mình sương khói thôi